Hoạt động thương mại nông sản Quảng Trị qua biên giới, còn đó những khó khăn

Thứ năm - 26/04/2018 08:37
Vận chuyển chuối trên địa bàn huyện Hướng Hoá xuất khẩu qua Trung Quốc
Vận chuyển chuối trên địa bàn huyện Hướng Hoá xuất khẩu qua Trung Quốc
 Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của tỉnh Quảng Trị như cao su, cà phê, tinh bột sắn chiếm tỷ trọng khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu và được tăng dần trong mấy năm nay (kim ngạch xuất khẩu của tỉnh năm 2015, 2016, 2017 là  197,5 triệu USD, 203,1 triệu USD và 267,1 triệu USD). Ngoài ra, còn một số sản phẩm xuất khẩu của tỉnh chưa được tính vào giá trị xuất khẩu của tỉnh như chuối, thủy sản, hồ tiêu... vì chủ yếu được bán cho các công ty ở các tỉnh khác trong nước để xuất khẩu. Tuy nhiên...
TIỀM NĂNG LỚN, HIỆU QUẢ THẤP
         Tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động thương mại qua biên giới luôn được xem là một trong những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thời gian qua, hoạt động này tại Quảng Trị có phần tăng trưởng và cơ cấu hàng hóa thương mại biên giới có nhiều thay đổi theo hướng đa dạng, phong phú hơn.  Với nhiều nông sản hàng hóa có lợi thế trong xuất khẩu, tuy nhiên phần lớn các mặt hàng này của Quảng Trị đều được xuất khẩu qua thị trường dễ tính như Trung Quốc và thị trường một số quốc gia khác, trong khi đó việc xuất khẩu qua thị trường các nước dọc theo hành lang kinh tế Đông -Tây, còn rất thấp.
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua hai cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay các năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 51,7 triệu USD, 87,4 triệu USD và 103,8 triệu USD tương tự với kim ngạch nhập khẩu là 190,2 triệu USD, 72,7 triệu USD và 114,7 triệu USD. Hiện nay, thương mại biên giới các mặt hàng nông sản tại 2 cửa khẩu Lao Bảo và La Lay vẫn gặp phải một số vướng mắc cần giải quyết trong thời gian tới, chẳng hạn khu vực kiểm tra chung tại cửa khẩu Densavan chật hẹp, lối ra vào không hợp lý nên chưa đáp ứng được nhu cầu tập kết hàng hóa chờ làm thủ tục hải quan. Cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu quốc tế La Lay còn tạm thời, mặt bằng khu cửa khẩu dốc gây khó khăn trong công tác kiểm tra, giám sát làm ảnh hưởng đến thời gian thông quan hàng hóa. Một trong những khó khăn nữa đó là quy mô thị trường Lào còn hạn chế nên hoạt động xuất khẩu nông sản của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường này còn nhỏ lẻ, kim ngạch thấp.
Riêng đối với hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch thì phần lớn nông sản xuất, nhập khẩu dọc theo biên giới là thông qua đường tiểu ngạch. Một số mặt hàng nhập khẩu qua đường tiểu ngạch bao gồm gạo tẻ, gạo nếp, ngô, cà phê , sắn, chuối, gia súc (bò). Đây chính là nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy chế biến tại Quảng Trị, chẳng hạn cà phê tươi thu mua từ Lào là nguyên liệu cho cơ sở chế biến cà phê tại Hướng Hóa; sắn thu mua từ Lào là nguyên liệu cho nhà máy tinh bột sắn Hướng Hóa; chuối tươi thu mua từ Lào được xuất khẩu qua Trung Quốc và tiêu thụ ở thị trường nội địa. Trong số các mặt hàng nhập khẩu không thể bỏ qua chuối, trong các năm gần đây một lượng lớn chuối mật mốc không lai tạo được trồng trên đất Lào, chủ yếu tại khu vực dọc hành lang biên giới tỉnh Quảng Trị với Lào, đặc biệt là khu vực dọc theo hai bên biên giới vùng cửa khẩu Densavan - Lao Bảo. Phần lớn chuối được các thương lái và các công ty thu mua, xuất khẩu qua Trung quốc với giá xuất khẩu thường không ổn định.
CHƯA BỀN VỮNG, CHẤT LƯỢNG KHÔNG BẰNG
Tại cửa khẩu Lao Bảo và La Lay hiện nay còn gặp phải một số vướng mắc trong chính sách quản lý thương mại nông sản qua biên giới, trong đó phải kể đến vướng mắc về chính sách thuế quan đối với hàng hóa đưa vào Khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo quy định tại Thông tư 109 của Bộ Tài chính. Theo đó, doanh nghiệp trong khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo sẽ phải chịu thuế xuất nhập khẩu như các DN nội địa, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu và tác động trực tiếp đến đời sống, công ăn việc làm của người dân trên địa bàn thị trấn biên giới Lao Bảo. Mặt khác, hoạt động xuất nhập khẩu tại cửa khẩu La Lay vẫn chưa mạnh, kim ngạch hàng hóa qua cửa khẩu La Lay bình quân 20 triệu USD/năm; năm 2017 đạt hơn 23,404 triệu USD, trong đó nhập khẩu đạt 11,126 triệu USD, xuất khẩu đạt 12,278 triệu USD.
 Ngoài ra, mặt hàng nông sản chính của Quảng Trị như gạo, cao su, cà phê, tinh bột sắn... cũng trùng với những nông sản xuất khẩu chính của Thái Lan. Khi so sánh với Thái Lan, năng lực cạnh tranh các mặt hàng này của Quảng Trị thấp hơn rất nhiều bởi những lý do như quá trình sản xuất và chế biến không bền vững, qui mô sản xuất các nông hộ nhỏ, chi phí sản xuất cao làm cho giá thành hàng hóa cao. Việc các hàng hóa nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào một thị trường Trung Quốc sẽ gây khó khăn trong tổ chức sản xuất bị ép giá... đặc biệt là vấn đề rủi ro khi xuất khẩu qua đường tiểu ngạch.
Điều quan trọng là chất lượng phần lớn các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Quảng Trị còn thấp, chỉ ở dạng thô hoặc sơ chế. Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 07 nhà máy và cơ sở chế biến mủ cao su, 14 doanh nghiệp và cơ sở thu mua và chế biến cà phê mà chủ yếu là cà phê nhân, 03 nhà máy chế biến tinh bột sắn, các nhà máy chế biến thủy sản như bột cá, chả  cá, thủy sản đông lạnh và 176 cơ sở hấp sấy cá. Bên cạnh đó, sản xuất và tiêu thụ mang tính phong trào, trong các chuỗi giá trị nông sản tồn tại sự tắc nghẽn do thiếu thông tin thị trường, thiếu tính liên kết giữa các tác nhân dẫn đến nông dân thường thường phải bán nông sản với giá thấp và mua các vật tư đầu vào với giá cao; Hoạt động xúc tiến thương mại cho khu vực thị trường nước ngoài còn chưa được quan tâm đúng mức.
NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN QUAN TÂM
Để giải quyết bài toán đẩy mạnh xuất khẩu nông sản qua hành lang EWEC trong thời gian tới, các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nữa và sớm đưa ra những giải pháp hỗ trợ phát triển thương mại biên giới của các mặt hàng nông sản của tỉnh. Chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, hợp tác phát triển vùng sản xuất nông sản dọc biên giới Việt – Lào gắn với chế biến và xuất khẩu thông qua hoạt động hình thành các vùng sản xuất nông sản xuyên biên giới để phục vụ xuất khẩu như cà phê, chuối, sắn và giúp liên kết giữa nông dân 2 nước. Xúc tiến việc hình thành “vùng kinh tế biên giới tự do” “Free Zone” giữa hai cổng B để gắn chặt hoạt động sản xuất các hàng hóa chủ lực như cà phê, chuối, sắn gắn với các nhà máy chế biến sâu để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh. Tích cực hỗ trợ địa phương tìm kiếm, kêu gọi các doanh nghiệp chế biến nông sản đến đầu tư và sản xuất trên địa bàn.
Thứ hai, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng nông sản chủ lực. Chú trọng phát triển bền vững các ngành hàng sản phẩm chủ lực. Tăng cường sự liên kết giữa nông dân với các cơ sở chế biến cuối cùng, các nhà máy. Xây dựng các chuỗi giá trị ngành hàng cho các mặt hàng nông sản chủ lực (như cà phê, sắn, chuối, cao su, lạc, tiêu).
Thứ ba, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua tập trung nâng cao chất lượng, xây dựng uy tín cho một số mặt hàng nông sản chủ lực của khu vực biên giới, từ đó xây dựng thương hiệu, bao bì đóng gói sản phẩm nhằm tạo ra thêm giá trị gia tăng cho nông sản được sản xuất trên địa bàn, cũng như giúp nâng cao khả năng xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới.
Thứ 4, thực hiện các chính sách hỗ trợ để thu hút các DN, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến nông sản đầu tư vào khu KT - TM đặc biệt Lao Bảo. Nghiên cứu xây dựng đề án Đề án cơ chế đặc thù cho Khu Kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo – Densavan.  Cắt giảm phí hạ tầng cửa khẩu, đặc biệt đối với các phương tiện chuyên chở hàng nông sản.

Tác giả bài viết: BÀI ẢNH: LÊ THỊ HUYỀN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây